Mục Lục
Người mới vào làm giữa năm vẫn có quyền nghỉ phép, chỉ khác ở cách tính. Theo khoản 2 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, ngày nghỉ phép năm cho lao động làm việc chưa đủ 12 tháng được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc thực tế. Bài viết giải thích công thức tại Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP kèm ví dụ cụ thể.

Tổng quan nhanh
– Khoản 2 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 cho hưởng phép theo tỷ lệ tháng làm việc.
– Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP lấy ngày phép chuẩn chia 12 nhân số tháng thực tế.
– Mức phép chuẩn là 12, 14 hoặc 16 ngày tùy điều kiện làm việc.
– Phần thập phân từ 0,5 trở lên thì làm tròn lên một ngày.
1. Làm việc chưa đủ 12 tháng có được nghỉ phép năm không
Câu trả lời là có. Nhiều người lầm tưởng phải làm đủ một năm mới được tính phép, nhưng khoản 2 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định người lao động (Employee) làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ số tháng làm việc.
Điểm khởi đầu của phép tính là mức phép chuẩn tại khoản 1 Điều 113. Người làm việc điều kiện bình thường có 12 ngày phép mỗi năm; mức 14 ngày dành cho người chưa thành niên, lao động là người khuyết tật và nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; mức 16 ngày áp dụng cho nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại. Xác định đúng nhóm của mình là bước đầu tiên.
Cách tính theo tỷ lệ công bằng cho cả hai phía: doanh nghiệp không phải trả trọn 12 ngày cho người mới vào cuối năm, còn người lao động không mất quyền nghỉ vì chưa làm tròn năm.
2. Công thức tính ngày phép theo tỷ lệ tháng làm việc
Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng số ngày tăng theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, rồi nhân số tháng làm việc thực tế. Ngày tăng theo thâm niên quy định tại Điều 114 Bộ luật Lao động 2019, cứ đủ 5 năm làm cho một người sử dụng lao động thì cộng thêm 1 ngày. Với người mới vào làm, phần này thường bằng 0 nên công thức rút gọn còn mức chuẩn chia 12 nhân số tháng.
| Nhóm người lao động | Phép chuẩn mỗi năm | Quy đổi cho 1 tháng |
|---|---|---|
| Điều kiện làm việc bình thường | 12 ngày | 1,00 ngày |
| Người chưa thành niên, người khuyết tật, nghề nặng nhọc độc hại | 14 ngày | khoảng 1,17 ngày |
| Nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm | 16 ngày | khoảng 1,33 ngày |
Cột cuối là con số bạn nhân với số tháng đã làm để ra kết quả nhanh. Phép năm là loại nghỉ hưởng nguyên lương, khác nhóm nghỉ việc riêng gắn với sự kiện gia đình. Để phân biệt hai nhóm này trong bảng công, bạn có thể xem thêm bài về nghỉ việc riêng có hưởng lương.
3. Ví dụ tính ngày phép cho người vào làm giữa năm
Đặt công thức vào tình huống thật sẽ dễ hình dung hơn. Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP nêu rõ kết quả được lấy tròn số hàng đơn vị, phần thập phân từ 0,5 trở lên thì làm tròn lên một đơn vị. Bảng dưới mô phỏng ba trường hợp thường gặp, giả định chưa có phép thâm niên.
| Tình huống | Phép tính | Kết quả sau làm tròn |
|---|---|---|
| Nhân viên văn phòng vào làm 01/4, đến 31/12 là 9 tháng | 12 ÷ 12 × 9 = 9,00 | 9 ngày |
| Công nhân nghề nặng nhọc, làm 7 tháng trong năm | 14 ÷ 12 × 7 = 8,17 | 8 ngày |
| Người làm nghề đặc biệt nặng nhọc, làm 5 tháng | 16 ÷ 12 × 5 = 6,67 | 7 ngày |
Hai dòng cuối cho thấy nguyên tắc làm tròn tạo ra kết quả khác nhau: 8,17 ngày rơi xuống 8 ngày vì phần thập phân nhỏ hơn 0,5, còn 6,67 ngày được nâng lên 7 ngày. Đây là chi tiết hay bị bỏ sót khi nhân sự (Human Resources) tính tay. Với người quan tâm đến hợp đồng lao động, các vị trí việc làm Pháp lý / Luật trên CareerLink là kênh tham khảo hữu ích.

4. Lưu ý khi xác định số tháng làm việc thực tế
Vướng mắc phổ biến không nằm ở phép nhân chia mà ở việc đếm số tháng. Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn: nếu tổng số ngày làm việc và ngày nghỉ có hưởng lương chiếm từ 50% số ngày làm việc bình thường trong tháng theo thỏa thuận thì tháng đó được tính là một tháng. Nghị định này cũng liệt kê các khoảng thời gian được coi là thời gian làm việc để tính phép, như nghỉ thai sản hay nghỉ ốm đau trong giới hạn quy định.
Lưu ý quan trọng
– Tháng lẻ dưới 50% ngày công theo thỏa thuận thì không được tính vào số tháng chia tỷ lệ.
– Phép tạm ứng trước sẽ được trừ lại khi quyết toán cuối năm hoặc khi chấm dứt hợp đồng.
– Thời gian nghỉ không hưởng lương dài ngày có thể không được tính là thời gian làm việc.
Phần lớn tranh chấp phát sinh vì hai bên hiểu khác nhau về mốc bắt đầu tính tháng. Người lao động nên đối chiếu ngày ghi trên hợp đồng với bảng chấm công và hỏi rõ cách xử lý tháng lẻ đầu tiên. Khi nghỉ việc, số ngày phép chưa dùng là căn cứ thanh toán theo khoản 3 Điều 113.
Lời khuyên
– Ghi lại ngày vào làm và tự tính trước số ngày phép để có cơ sở đối chiếu.
– Đọc kỹ nội quy lao động và thỏa ước tập thể vì nhiều nơi cho nghỉ hơn mức luật định.
– Gửi đề nghị nghỉ phép qua hệ thống nhân sự để có dấu vết lưu trữ khi tra soát.
Ba thói quen trên giúp người lao động chủ động hơn khi làm việc chưa tròn năm và giảm rủi ro tranh chấp về số ngày phép. Phần câu hỏi thường gặp dưới đây giải đáp thêm các tình huống cụ thể hay gặp trong thực tế.
5. Câu hỏi thường gặp
1. Làm việc 3 tháng rồi nghỉ thì có được tính phép năm không?
Có. Khoản 2 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 không đặt mốc tối thiểu, nên làm 3 tháng vẫn được hưởng phép theo tỷ lệ. Với điều kiện bình thường, phép tính là 12 chia 12 nhân 3, tương đương 3 ngày. Nếu chưa nghỉ ngày nào, số ngày này được thanh toán bằng tiền khi chấm dứt hợp đồng.
2. Thời gian thử việc có được tính vào số tháng làm việc không?
Điều này phụ thuộc vào cách ký kết. Nếu nội dung thử việc nằm trong hợp đồng lao động chính thức thì thời gian đó thường được tính là thời gian làm việc. Khi hai bên ký hợp đồng thử việc riêng, cách xử lý có thể khác nhau, nên bạn cần đối chiếu nội quy công ty.
3. Công ty tính phép năm theo năm tài chính thay vì năm dương lịch có được không?
Pháp luật không cấm doanh nghiệp chọn kỳ tính phép riêng, miễn số ngày người lao động được hưởng không thấp hơn mức luật định và cách tính được ghi rõ trong nội quy lao động. Nếu cách tính làm giảm quyền lợi so với Điều 113, bạn có thể đề nghị giải thích bằng văn bản hoặc phản ánh qua tổ chức đại diện.
Tóm lại, quy định về nghỉ phép năm cho lao động làm việc chưa đủ 12 tháng khá rõ ràng: lấy mức phép chuẩn 12, 14 hoặc 16 ngày cộng ngày thâm niên nếu có, chia 12 rồi nhân số tháng làm việc thực tế, sau đó làm tròn theo nguyên tắc tại Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Chủ động tính trước và đối chiếu với bảng chấm công giúp bạn giữ đúng quyền lợi của mình.
Nội dung trong bài mang tính tham khảo, không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên môn. Khi áp dụng vào trường hợp cụ thể, bạn nên đối chiếu văn bản luật hiện hành và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc hỏi ý kiến chuyên gia.
Minh An



