Mục Lục
- 1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là gì?
- 2. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động (Điều 35)
- 3. Quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động (Điều 36 và Điều 37)
- 4. Hậu quả chấm dứt trái luật và trợ cấp thôi việc
- 5. Nhu cầu nhân sự am hiểu pháp luật lao động trên thị trường
- 6. Câu hỏi thường gặp
Nghỉ việc trước hạn hay cho nhân viên thôi việc đều phải theo trình tự luật định. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (unilateral termination) là quyền của cả hai bên, nhưng đi kèm điều kiện về căn cứ và thời hạn báo trước. Bài viết tổng hợp quy định của Bộ luật Lao động 2019 để bạn nắm rõ quyền lợi và tránh rủi ro bồi thường.

Tóm tắt nhanh:
– Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần nêu lý do, chỉ cần báo trước 45, 30 hoặc 3 ngày tùy loại hợp đồng.
– Người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt khi có căn cứ nêu tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.
– Bên nào chấm dứt trái luật sẽ phải bồi thường theo Điều 40 hoặc Điều 41 và có thể mất quyền lợi trợ cấp thôi việc.
1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là gì?
Theo Điều 34 Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14), hợp đồng lao động có thể kết thúc vì nhiều lý do: hết hạn, hoàn thành công việc, hai bên cùng thỏa thuận hoặc người lao động bị kỷ luật sa thải. Đơn phương chấm dứt là trường hợp một bên tự quyết định kết thúc hợp đồng mà không cần bên còn lại đồng ý. Quyền này được ghi nhận cho cả người lao động (Điều 35) lẫn người sử dụng lao động (Điều 36), với những ràng buộc rất khác nhau.
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ: người lao động được nghỉ việc mà không cần nêu lý do, chỉ phải tuân thủ thời hạn báo trước; ngược lại, người sử dụng lao động bắt buộc phải có căn cứ luật định mới được cho nhân viên thôi việc. Cách thiết kế này phản ánh nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động.
Theo quy định hiện hành, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ được pháp luật bảo vệ khi bên thực hiện tuân thủ đúng căn cứ và thời hạn báo trước.
2. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động (Điều 35)
Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người lao động nghỉ việc không cần lý do, miễn là báo trước đủ thời hạn. Đây là thay đổi đáng chú ý so với Bộ luật Lao động 2012, khi người làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn còn phải chứng minh lý do chính đáng.
2.1 Thời hạn báo trước theo từng loại hợp đồng
Thời hạn báo trước phụ thuộc vào loại hợp đồng đang giao kết. Bảng dưới đây tóm tắt mức tối thiểu theo Điều 35 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
| Loại hợp đồng lao động | Thời hạn báo trước tối thiểu | Căn cứ pháp lý |
|---|---|---|
| Không xác định thời hạn | Ít nhất 45 ngày | Điểm a khoản 1 Điều 35 |
| Xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng | Ít nhất 30 ngày | Điểm b khoản 1 Điều 35 |
| Xác định thời hạn dưới 12 tháng | Ít nhất 3 ngày làm việc | Điểm c khoản 1 Điều 35 |
| Ngành, nghề đặc thù (tổ lái tàu bay, người quản lý doanh nghiệp…) | Ít nhất 120 ngày; hợp đồng dưới 12 tháng: một phần tư thời hạn | Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP |
Trên thực tế, thủ tục báo trước, ra quyết định thôi việc hay chốt sổ bảo hiểm thường do bộ phận pháp chế và nhân sự của doanh nghiệp phụ trách. Theo dữ liệu tuyển dụng trên CareerLink (tháng 7/2026), nhóm ngành Pháp lý – Luật đang có 306 tin tuyển dụng với các chức danh phổ biến như chuyên viên pháp lý (Legal Officer) hay nhân viên nhân sự C&B — những vị trí trực tiếp xử lý hồ sơ chấm dứt hợp đồng. Bạn có thể tham khảo các vị trí việc làm pháp lý – luật để hình dung yêu cầu thực tế của nghề.
2.2 Bảy trường hợp nghỉ ngay không cần báo trước
Khoản 2 Điều 35 liệt kê những tình huống người lao động được nghỉ ngay, bởi quyền lợi cơ bản đã bị xâm phạm hoặc hoàn cảnh không cho phép chờ đợi.
– Người lao động không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc điều kiện làm việc đã thỏa thuận, trừ trường hợp điều chuyển tạm thời theo Điều 29.
– Người lao động không được trả đủ lương hoặc bị trả lương không đúng thời hạn đã cam kết, trừ trường hợp bất khả kháng tại khoản 4 Điều 97.
– Người lao động bị ngược đãi, đánh đập, bị lời nói hay hành vi nhục mạ gây tổn hại sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, hoặc bị cưỡng bức lao động.
– Người lao động bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc dưới bất kỳ hình thức nào.
– Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh, quy định tại khoản 1 Điều 138.
– Người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo Điều 169, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác về việc tiếp tục làm việc.
– Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Rơi vào một trong bảy trường hợp trên, người lao động có thể rời đi ngay mà vẫn hợp pháp; dù vậy, nên lưu giữ bằng chứng vi phạm của doanh nghiệp phòng khi tranh chấp.
Lưu ý pháp lý:
– Thời hạn 45 và 30 ngày tính liên tục theo ngày dương lịch gồm cả ngày nghỉ; mức 3 ngày cho hợp đồng dưới 12 tháng tính theo ngày làm việc.
– Nên gửi thông báo nghỉ việc bằng văn bản hoặc email có xác nhận đã nhận, để lưu bằng chứng về thời điểm bắt đầu báo trước.
– Pháp luật không buộc người sử dụng lao động phải “duyệt đơn”; hết thời hạn báo trước, người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng.

3. Quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động (Điều 36 và Điều 37)
Khác với người lao động, doanh nghiệp muốn kết thúc hợp đồng trước hạn phải dựa trên căn cứ được liệt kê tại Điều 36. Thiếu căn cứ, quyết định cho thôi việc sẽ bị xem là trái pháp luật dù đã báo trước đầy đủ.
3.1 Căn cứ hợp pháp theo Điều 36
Khoản 1 Điều 36 quy định các trường hợp chính mà người sử dụng lao động được viện dẫn.
– Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo tiêu chí đánh giá trong quy chế đã ban hành, sau khi tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
– Người lao động ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục (hợp đồng không xác định thời hạn), 6 tháng (hợp đồng 12–36 tháng) hoặc quá nửa thời hạn (hợp đồng dưới 12 tháng) mà khả năng lao động chưa hồi phục.
– Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, dù đã tìm mọi biện pháp khắc phục vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
– Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau 15 ngày kể từ khi hết thời hạn tạm hoãn hợp đồng, hoặc tự ý bỏ việc từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.
– Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo Điều 169, hoặc đã cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng.
Về thủ tục, doanh nghiệp cũng phải báo trước 45, 30 hoặc 3 ngày làm việc tùy loại hợp đồng; riêng hai tình huống bỏ việc 5 ngày liên tục và không trở lại sau tạm hoãn thì không cần báo trước.
3.2 Khi nào doanh nghiệp không được đơn phương chấm dứt
Điều 37 Bộ luật Lao động 2019 dựng lên “vùng cấm” nhằm bảo vệ người lao động trong giai đoạn dễ tổn thương. Doanh nghiệp không được thực hiện quyền đơn phương khi người lao động đang ốm đau, bị tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp và điều trị theo chỉ định, trừ trường hợp đã điều trị kéo dài nêu tại điểm b khoản 1 Điều 36. Quy định tương tự áp dụng khi người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng có sự đồng ý của doanh nghiệp, hoặc khi lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quyết định ban hành trong các thời điểm này rất dễ bị tuyên trái pháp luật khi ra tòa.
4. Hậu quả chấm dứt trái luật và trợ cấp thôi việc
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là chấm dứt không đúng căn cứ hoặc vi phạm thời hạn báo trước. Hậu quả tài chính cho mỗi bên được quy định tách bạch tại Điều 40 và Điều 41, với mức độ nặng nhẹ khác nhau.
4.1 Người lao động chấm dứt trái pháp luật (Điều 40)
Người lao động “nghỉ ngang” sẽ mất quyền hưởng trợ cấp thôi việc, đồng thời phải bồi thường cho doanh nghiệp nửa tháng tiền lương theo hợp đồng cộng với khoản tiền tương ứng tiền lương của những ngày không báo trước. Nếu từng được công ty đài thọ học nghề, đào tạo nâng cao, người lao động còn phải hoàn trả chi phí đào tạo theo Điều 62. Nhiều người nhầm khoản trợ cấp thôi việc bị mất này với trợ cấp thất nghiệp do Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp chi trả; bài viết phân biệt trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp sẽ giúp bạn tách bạch hai khoản này.
4.2 Người sử dụng lao động chấm dứt trái pháp luật (Điều 41)
Nghĩa vụ của doanh nghiệp nặng hơn đáng kể: phải nhận người lao động trở lại làm việc, trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho những ngày họ không được làm việc, và trả thêm ít nhất 2 tháng tiền lương. Nếu người lao động không muốn quay lại, ngoài các khoản trên họ còn được nhận trợ cấp thôi việc theo Điều 46. Trường hợp doanh nghiệp không muốn nhận lại và người lao động đồng ý, hai bên thỏa thuận khoản bồi thường bổ sung, ít nhất bằng 2 tháng tiền lương nữa. Vi phạm riêng về thời hạn báo trước thì phải trả khoản tiền tương ứng với những ngày không báo trước.
4.3 Trợ cấp thôi việc theo Điều 46
Khi hợp đồng chấm dứt đúng luật, doanh nghiệp có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được nửa tháng tiền lương. Thời gian tính trợ cấp bằng tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp trước đó; tiền lương làm căn cứ là bình quân 6 tháng liền kề trước khi nghỉ. Do bảo hiểm thất nghiệp áp dụng từ năm 2009, khoản này với nhiều người hiện nay không lớn.
Lời khuyên:
– Ưu tiên thương lượng chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận tại khoản 3 Điều 34 để chốt quyền lợi rõ ràng bằng văn bản.
– Lưu lại hợp đồng, phiếu lương, quyết định điều chuyển và mọi trao đổi quan trọng, phòng khi cần chứng minh trong tranh chấp lao động.
– Nếu bị cho thôi việc thiếu căn cứ, hãy liên hệ hòa giải viên lao động hoặc khởi kiện tại Tòa án trong thời hiệu theo Điều 190.
5. Nhu cầu nhân sự am hiểu pháp luật lao động trên thị trường
Tranh chấp về chấm dứt hợp đồng thuộc nhóm phổ biến nhất tại tòa lao động, kéo theo nhu cầu tuyển người nắm vững Bộ luật Lao động 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP ở khối doanh nghiệp. Theo dữ liệu tuyển dụng trên CareerLink (tháng 7/2026), các tin tuyển nhóm Pháp lý – Luật ghi nhận mức lương đăng tuyển phổ biến từ 12 đến 30 triệu đồng mỗi tháng tùy vị trí và kinh nghiệm. Cũng theo dữ liệu này, việc làm tập trung nhiều tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương và Long An. Hiểu quyền chấm dứt hợp đồng của chính mình vì vậy cũng là một dạng “bảo hiểm” nghề nghiệp cho bất kỳ người đi làm nào.
6. Câu hỏi thường gặp
1. Người lao động nghỉ ngang có phải bồi thường không?
Có. Theo Điều 40, người nghỉ không báo trước đủ thời hạn phải bồi thường nửa tháng tiền lương cộng tiền lương những ngày không báo trước, mất trợ cấp thôi việc và có thể phải hoàn trả chi phí đào tạo.
2. Thời hạn báo trước 45 ngày tính theo ngày làm việc hay ngày dương lịch?
Mức 45 và 30 ngày tính theo ngày dương lịch liên tục, gồm cả ngày nghỉ, lễ. Riêng hợp đồng dưới 12 tháng áp dụng 3 ngày làm việc.
3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng luật có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
Được, nếu đủ điều kiện của Luật Việc làm: đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trong 24 tháng trước khi nghỉ và nộp hồ sơ tại trung tâm dịch vụ việc làm đúng hạn.
Hiểu đúng quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giúp cả hai bên kết thúc quan hệ lao động văn minh và hạn chế tranh chấp. Người lao động cần tuân thủ thời hạn báo trước, còn doanh nghiệp phải dựa trên căn cứ luật định tại Điều 36. Trước khi quyết định, hãy đọc kỹ hợp đồng, đối chiếu luật hiện hành và ưu tiên phương án thỏa thuận để bảo toàn quyền lợi.
Nội dung trong bài mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Quy định pháp luật có thể được sửa đổi, bổ sung; vui lòng đối chiếu văn bản hiện hành hoặc tham vấn luật sư, cơ quan quản lý lao động trước khi thực hiện.
Minh An



