Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất gồm những khoản nào

Từ ngày 1/7/2025, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 thay thế luật cũ và thay đổi cách tính tiền đóng. Nhiều kế toán lẫn người lao động vẫn tra cứu theo văn bản hết hiệu lực nên tính sai. Bài viết tổng hợp mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất, gồm tỷ lệ từng quỹ, tiền lương làm căn cứ và giới hạn trần sàn.

mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất

Tổng quan nhanh

– Căn cứ pháp lý là Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 (hiệu lực 1/7/2025) và Nghị định 158/2025/NĐ-CP.

– Tổng tỷ lệ trích theo lương là 32%, trong đó người lao động chịu 10,5% và người sử dụng lao động chịu 21,5%.

– Tiền lương làm căn cứ đóng gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định.

– Mức tham chiếu áp dụng từ 1/7/2025 là 2.340.000 đồng, trần đóng bằng 20 lần mức này.

1. Căn cứ pháp lý của mức đóng bảo hiểm xã hội hiện hành

Quy định về đóng bảo hiểm xã hội (Social Insurance) hiện nay dựa trên Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 29/6/2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 và thay thế Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13. Văn bản hướng dẫn thi hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc là Nghị định 158/2025/NĐ-CP ban hành ngày 25/6/2025. Vì vậy, tài liệu nào còn trích Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì không phản ánh đúng cách tính hiện hành.

Khoản trích theo lương hằng tháng của người lao động không chỉ có bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm y tế chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo hiểm y tế đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 51/2024/QH15. Bảo hiểm thất nghiệp chuyển sang khung mới là Luật Việc làm số 74/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 và thay thế Luật Việc làm 2013. Ba nhóm quỹ này cùng được tính trên một mốc tiền lương nên người lao động thường gộp chung khi nói về tiền bảo hiểm bị trừ. Nếu bạn cần nắm lại khái niệm nền trước khi đọc phần tỷ lệ, bài bảo hiểm xã hội là gì giải thích rõ bản chất của loại hình này.

Đọc đúng văn bản còn hiệu lực là bước đầu tiên, vì một con số trích dẫn từ luật đã hết hiệu lực có thể kéo theo sai lệch suốt cả bảng lương.

2. Tỷ lệ đóng chia theo từng quỹ thành phần

Khi tra cứu mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất, con số cần nhớ trước tiên là tổng mức trích theo tiền lương của cả hai bên: 32%, chia thành năm quỹ thành phần với vai trò khác nhau. Người lao động chịu phần nhỏ hơn, tập trung vào quỹ hưu trí và tử tuất. Người sử dụng lao động gánh phần lớn hơn vì phải đóng thêm cho quỹ ốm đau, thai sản và quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Bảng dưới đây tách rõ tỷ lệ của từng bên theo từng quỹ.

Quỹ thành phần Người lao động Người sử dụng lao động Tổng
Hưu trí và tử tuất 8% 14% 22%
Ốm đau và thai sản Không đóng 3% 3%
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Không đóng 0,5% 0,5%
Bảo hiểm thất nghiệp 1% 1% 2%
Bảo hiểm y tế 1,5% 3% 4,5%
Tổng cộng 10,5% 21,5% 32%

Nhìn vào bảng có thể thấy phần 8% trừ trực tiếp vào lương chỉ chảy về quỹ hưu trí và tử tuất, tức khoản dành cho lương hưu và trợ cấp cho thân nhân sau này. Chế độ ốm đau, thai sản do doanh nghiệp đóng toàn bộ 3%, nên người lao động vẫn được hưởng dù không trích đồng nào từ lương cho quỹ đó. Riêng quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp áp mức 0,5%, và doanh nghiệp đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ có thể được xét áp dụng mức thấp hơn là 0,3%.

3. Tiền lương làm căn cứ đóng gồm những khoản nào

Đây là điểm thay đổi dễ gây nhầm lẫn nhất khi tra cứu mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất. Với người hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương làm căn cứ đóng là tiền lương tháng, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. Cách diễn đạt này rộng hơn so với quy định cũ, vốn gắn với các khoản xác định được số tiền cụ thể ghi trong hợp đồng lao động.

Với người hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, căn cứ đóng là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm, cộng với các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu có. Hai nhóm này tính trên hai gốc khác nhau nên không thể áp dụng chung một công thức.

Trong thực tế, tranh cãi thường nằm ở các khoản chi mang tính phúc lợi. Tiền thưởng theo Bộ luật Lao động, tiền ăn giữa ca, hỗ trợ xăng xe, điện thoại, nhà ở, giữ trẻ hay khoản hỗ trợ khi thân nhân qua đời thường không nằm trong căn cứ đóng nếu được ghi thành mục riêng và không mang tính trả thường xuyên gắn với công việc. Ngược lại, một khoản đặt tên là hỗ trợ nhưng tháng nào cũng chi cùng số tiền cho cùng vị trí thì rất dễ bị cơ quan bảo hiểm xã hội xác định lại là khoản phải tính đóng.

Nếu bạn quan tâm tới nghề nghiệp trong lĩnh vực này, có thể theo dõi các vị trí việc làm Bảo hiểm đang tuyển dụng trên CareerLink để hình dung yêu cầu chuyên môn mà nhà tuyển dụng đặt ra cho người phụ trách chế độ.

Lưu ý quan trọng

– Cụm “lương cơ sở” đã được thay bằng “mức tham chiếu” trong các quy định tính đóng và tính hưởng bảo hiểm xã hội.

– Việc thỏa thuận tách nhỏ lương thành nhiều khoản phụ cấp để hạ mức đóng có thể bị truy thu khi cơ quan quản lý thanh tra.

– Hành vi chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội được tách thành hai nhóm riêng với chế tài khác nhau theo luật hiện hành.

4. Mức sàn, mức trần và cách tính tiền đóng hằng tháng

Luật hiện hành quy định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và không vượt quá 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng. Theo Nghị định 158/2025/NĐ-CP, mức tham chiếu áp dụng từ ngày 1/7/2025 là 2.340.000 đồng một tháng, bằng mức lương cơ sở khi chưa có quyết định bãi bỏ. Như vậy, trần tiền lương làm căn cứ đóng là 46.800.000 đồng một tháng. Riêng bảo hiểm thất nghiệp có mốc trần riêng theo quy định của pháp luật về việc làm, nên bạn cần đối chiếu thêm khi lương vượt ngưỡng.

Một điểm cần phân biệt là sàn theo luật bảo hiểm xã hội khác với sàn tiền lương trên hợp đồng. Người làm việc theo hợp đồng lao động vẫn phải được trả không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo Bộ luật Lao động, nên trên thực tế con số dùng để tính đóng thường cao hơn mức tham chiếu khá nhiều.

Lấy một ví dụ cụ thể để dễ hình dung. Giả sử tiền lương làm căn cứ đóng của bạn là 15.000.000 đồng một tháng, chưa chạm trần. Phần người lao động chịu là 10,5%, tương đương 1.575.000 đồng bị trừ vào lương thực nhận. Phần doanh nghiệp chịu là 21,5%, tương đương 3.225.000 đồng, hạch toán vào chi phí nhân sự. Tổng số tiền nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong tháng đó là 4.800.000 đồng.

Trường hợp tiền lương làm căn cứ đóng là 60.000.000 đồng, phần vượt trần không được tính. Cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ thu trên 46.800.000 đồng, nghĩa là người lao động bị trừ khoảng 4.914.000 đồng thay vì tính trên toàn bộ thu nhập. Cách xử lý này giữ cho mức hưởng lương hưu về sau nằm trong giới hạn mà quỹ có thể cân đối.

mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất

5. Nhóm đối tượng phải tham gia được mở rộng ra sao

Điểm đáng chú ý của luật hiện hành là phạm vi người phải tham gia rộng hơn trước. Người làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng trở lên vẫn thuộc diện tham gia như quy định cũ. Bên cạnh đó, luật bổ sung người làm việc theo hợp đồng mang tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Quy định này nhằm xử lý tình trạng đặt tên hợp đồng khác đi để né nghĩa vụ đóng.

Nhóm thứ hai là người làm việc không trọn thời gian theo hợp đồng lao động từ đủ một tháng trở lên, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất. Nhóm thứ ba là chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, tham gia theo quy định của Chính phủ. Chủ hộ kinh doanh được lựa chọn tiền lương làm căn cứ đóng trong khoảng từ mức tham chiếu tới 20 lần mức tham chiếu, đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản cùng 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất, tức 25% trên mức đã chọn. Nếu chọn mức thấp nhất, số tiền phải nộp là 585.000 đồng một tháng, và có thể chọn kỳ đóng theo tháng, quý hoặc sáu tháng.

Lời khuyên khi kiểm tra hồ sơ đóng

– Hãy tra cứu quá trình đóng trên ứng dụng VssID để đối chiếu mức lương ghi nhận với hợp đồng lao động của bạn.

– Khi thấy mức đóng thấp hơn thu nhập thực tế, bạn nên hỏi bộ phận nhân sự về cấu trúc lương trước khi khiếu nại.

– Người chuyển việc giữa năm cần kiểm tra tháng bàn giao để tránh bị trống thời gian tham gia bảo hiểm xã hội.

– Chủ hộ kinh doanh nên cân nhắc mức đóng phù hợp dòng tiền, vì mức chọn ảnh hưởng trực tiếp tới lương hưu sau này.

6. Câu hỏi thường gặp

1. Khi tăng lương giữa năm thì tiền đóng thay đổi từ tháng nào?

Tiền lương làm căn cứ đóng được điều chỉnh theo tiền lương mới mà hai bên thỏa thuận, kể từ tháng phát sinh thay đổi. Doanh nghiệp có trách nhiệm khai báo điều chỉnh với cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn quy định. Nếu khai báo trễ, phần chênh lệch thường bị truy thu kèm khoản tiền tính thêm theo quy định.

2. Người đang thử việc có phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không?

Điều này phụ thuộc vào hình thức giao kết. Nếu nội dung thử việc được ghi trong hợp đồng lao động từ đủ một tháng trở lên thì người lao động thuộc diện tham gia. Nếu hai bên ký hợp đồng thử việc riêng theo Bộ luật Lao động thì thời gian đó không thuộc diện đóng, nhưng bạn nên xem kỹ loại văn bản mình đã ký.

3. Đóng bảo hiểm xã hội trên mức tối thiểu có bất lợi gì không?

Mức đóng thấp giúp lương thực nhận cao hơn trong ngắn hạn, nhưng kéo theo mức hưởng thấp ở các chế độ tính theo bình quân tiền lương đóng, gồm ốm đau, thai sản và lương hưu. Bạn nên cân nhắc theo kế hoạch tài chính dài hạn của mình thay vì chỉ nhìn vào khoản bị trừ hằng tháng.

Nhìn chung, ba yếu tố quyết định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc mới nhất gồm tỷ lệ 10,5% của người lao động và 21,5% của người sử dụng lao động, tiền lương làm căn cứ đóng theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cùng giới hạn trần 20 lần mức tham chiếu. Nắm ba yếu tố này, bạn có thể đối chiếu bảng lương và phát hiện sớm sai lệch trong hồ sơ tham gia.

Nội dung trong bài mang tính tham khảo, không thay thế cho tư vấn pháp lý hoặc hướng dẫn của cơ quan bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ đóng, mức tham chiếu và danh mục đối tượng tham gia có thể được sửa đổi, vì vậy bạn nên đối chiếu văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm áp dụng.

Minh An

Về Tác Giả

CareerLink

Sao chép thành công