Mục Lục
Hai người cùng ký hợp đồng thử việc một vị trí, cùng doanh nghiệp, nhưng số tiền nhận về chênh nhau vài triệu đồng mỗi tháng. Khác biệt thường nằm ở chỗ họ không biết lương thử việc tối thiểu bao nhiêu phần trăm theo luật, và mốc phần trăm ấy được tính trên con số nào. Bài viết đi vào đúng hai câu hỏi đó.
![]()
Tổng quan nhanh
– Điều 26 Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14) ấn định tiền lương thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó.
– Gốc để nhân 85% là mức lương của chính công việc được thử, không phải lương tối thiểu vùng hay tổng thu nhập gồm thưởng.
– Nghị định 293/2025/NĐ-CP tạo thêm một lớp sàn tuyệt đối: Vùng I 5.310.000 đồng/tháng, Vùng IV 3.700.000 đồng/tháng, áp dụng từ 01/01/2026.
– Trả dưới ngưỡng 85% bị xử phạt theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, kèm buộc trả đủ phần chênh lệch.
1. Con số 85% trong Điều 26 Bộ luật Lao động 2019
Hỏi lương thử việc tối thiểu bao nhiêu phần trăm, câu trả lời gọn là 85%. Điều 26 Bộ luật Lao động 2019 quy định tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc (probation) do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Cách diễn đạt “ít nhất” mang ý nghĩa pháp lý riêng, và phần lớn hiểu lầm xuất phát từ việc đọc lướt qua hai chữ này.
1. “Ít nhất” là sàn, không phải mức mặc định
Nhiều bản tin tuyển dụng ghi thẳng “lương thử việc 85%” như thể đó là con số luật ấn định sẵn. Thực tế luật chỉ chặn phía dưới, còn khoảng phía trên để ngỏ cho thương lượng. Doanh nghiệp trả 90%, 95% hay nguyên mức lương của vị trí đều hợp pháp và khá phổ biến ở nhóm vị trí khó tuyển, nên người lao động có cơ sở để đàm phán thay vì mặc định nhận con số thấp nhất.
2. Thỏa thuận không thể kéo mức sàn xuống
Thỏa thuận trong hợp đồng thử việc không có giá trị nếu đặt mức thấp hơn quy định. Kể cả khi người lao động đã ký tên vào bản hợp đồng ghi 70% với lý do “chưa có kinh nghiệm”, điều khoản đó vẫn trái Điều 26 và không được công nhận. Một số tình huống thường gặp khiến mức sàn bị vi phạm mà người lao động không nhận ra:
– Doanh nghiệp tách lương thành phần cứng thấp cộng phần hoa hồng, rồi chỉ nhân 85% trên phần cứng.
– Hợp đồng thử việc bỏ trống mục mức lương, chỉ ghi “theo quy chế công ty” nên không có con số để đối chiếu.
– Nhà tuyển dụng gọi giai đoạn đầu là “đào tạo” hoặc “học việc” để né trách nhiệm trả lương thử việc.
Cả ba đều xử lý được nếu người lao động giữ lại tin nhắn, email trao đổi mức lương trước khi ký. Điều 24 Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu hợp đồng thử việc phải có mức lương, nên bỏ trống mục này tự nó đã là dấu hiệu bất thường.
2. Xác định “mức lương của công việc đó” cho đúng
Đây là mắt xích quyết định toàn bộ phép tính. Biết lương thử việc tối thiểu bao nhiêu phần trăm vẫn chưa đủ nếu không rõ tỷ lệ ấy nhân với con số nào, bởi tranh chấp trên thực tế thường nằm ở gốc tính chứ không ở tỷ lệ. Hai bên cùng đồng ý 85%, nhưng doanh nghiệp lấy gốc 8 triệu trong khi vị trí đó được rao tuyển 12 triệu thì khoảng cách vẫn rất lớn.
Bạn có thể tham khảo thêm việc làm lao động phổ thông đang tuyển dụng trên CareerLink để nắm rõ nhu cầu thực tế và yêu cầu của nhà tuyển dụng.
1. Ba nguồn dữ liệu dùng làm mốc
Mức lương của công việc là mức lương chính thức mà người lao động được hưởng khi làm đúng vị trí đó sau khi qua thử việc. Có thể tra ngược mốc này từ những nguồn sau:
– Thang lương, bảng lương của doanh nghiệp là căn cứ có giá trị nhất, vì Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 buộc doanh nghiệp xây dựng và tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động trước khi ban hành.
– Bản mô tả công việc kèm mức lương ghi trong tin tuyển dụng hoặc thư mời nhận việc (offer letter) thể hiện mức lương doanh nghiệp tự công bố cho vị trí ấy.
– Hợp đồng lao động chính thức dự kiến ký sau thử việc, nếu doanh nghiệp gửi trước bản nháp, cho biết con số cuối cùng.
Khi ba nguồn lệch nhau, mốc hợp lý là con số cao nhất doanh nghiệp đã chủ động công bố, bởi đó là cam kết họ đưa ra để thu hút ứng viên.
2. Những khoản không được gộp vào gốc tính
Mức lương của công việc mang nghĩa tiền lương theo chức danh, không đồng nhất với tổng thu nhập hằng tháng. Phụ cấp xăng xe, điện thoại, tiền ăn ca hay thưởng doanh số về bản chất là khoản bổ sung, phụ thuộc kết quả từng tháng. Nếu doanh nghiệp cộng hết những khoản này rồi mới nhân 85%, con số hiển thị có vẻ lớn nhưng phần lương cố định nhận về lại tụt dưới ngưỡng luật định.
Lưu ý quan trọng
– Thời gian thử việc theo Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 tối đa 180 ngày với người quản lý doanh nghiệp, 60 ngày với vị trí cần trình độ cao đẳng trở lên, 30 ngày với trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật, 06 ngày làm việc với công việc khác.
– Mỗi công việc chỉ được thử việc một lần, nên việc kéo dài thử việc thêm chu kỳ thứ hai để tiếp tục trả mức 85% là trái quy định.
– Hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng thì không áp dụng thử việc.
3. Lớp sàn thứ hai: lương tối thiểu vùng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP
Ngưỡng 85% không tồn tại một mình. Song song với nó là mức lương tối thiểu vùng (regional minimum wage), hiện áp dụng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP ban hành ngày 10/11/2025, hiệu lực từ 01/01/2026, thay thế Nghị định 74/2024/NĐ-CP. Người thử việc vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này, nên tiền lương giai đoạn thử việc phải vượt đồng thời cả hai lớp sàn.
Để hiểu sâu hơn về quyền lợi liên quan, bạn có thể xem thêm bài Làm việc ngày lễ Tết lương tính thế nào trong chuyên mục Luật Lao động của CareerLink.
| Vùng | Lương tối thiểu tháng | Lương tối thiểu giờ | Ngưỡng lương công việc để phép tính 85% còn ý nghĩa |
|---|---|---|---|
| Vùng I | 5.310.000 đồng | 25.500 đồng | Khoảng 6.250.000 đồng |
| Vùng II | 4.730.000 đồng | 22.700 đồng | Khoảng 5.565.000 đồng |
| Vùng III | 4.140.000 đồng | 20.000 đồng | Khoảng 4.870.000 đồng |
| Vùng IV | 3.700.000 đồng | 17.800 đồng | Khoảng 4.353.000 đồng |
Cột cuối cùng là cách đọc bảng ít người để ý. Lấy lương tối thiểu vùng chia cho 0,85 sẽ ra ngưỡng lương công việc mà từ đó trở xuống, phép nhân 85% cho kết quả thấp hơn sàn vùng. Với vị trí ở Vùng I có mức lương dưới khoảng 6,25 triệu đồng, doanh nghiệp phải trả đủ 5.310.000 đồng chứ không được lấy 85% làm căn cứ. Ngược lại, ở vị trí lương vài chục triệu, ràng buộc thực sự luôn là ngưỡng 85%.
Hai lớp sàn hoạt động theo nguyên tắc lấy mức có lợi hơn cho người lao động, chứ không phải chọn một trong hai.
4. Bốn phép tính bằng số cụ thể
Cách áp dụng hai lớp sàn vào tình huống thật gồm ba bước: xác định mức lương của công việc, nhân với 0,85, rồi so kết quả với lương tối thiểu vùng nơi người lao động làm việc. Con số nào lớn hơn thì đó là mức tối thiểu hợp pháp.
| Trường hợp | Lương của công việc | Kết quả 85% | Sàn vùng | Mức tối thiểu hợp pháp |
|---|---|---|---|---|
| Nhân viên kinh doanh (Sales Executive), Vùng I | 12.000.000 đồng | 10.200.000 đồng | 5.310.000 đồng | 10.200.000 đồng |
| Công nhân vận hành máy (Machine Operator), Vùng III | 4.600.000 đồng | 3.910.000 đồng | 4.140.000 đồng | 4.140.000 đồng |
| Nhân viên phục vụ bán thời gian (Waiter), Vùng II | 30.000 đồng/giờ | 25.500 đồng/giờ | 22.700 đồng/giờ | 25.500 đồng/giờ |
| Nhân viên hành chính (Administrative Staff), Vùng I | 9.000.000 đồng | 7.650.000 đồng | 5.310.000 đồng | 7.650.000 đồng |
Trường hợp thứ hai là tình huống hiếm khi được nhắc tới: mức 85% rơi xuống dưới sàn vùng, doanh nghiệp phải trả theo lương tối thiểu vùng 4.140.000 đồng, cao hơn kết quả nhân phần trăm tới 230.000 đồng. Trường hợp thứ tư minh họa một tranh chấp thường gặp: nếu doanh nghiệp chỉ chi trả 7.000.000 đồng thì phần thiếu là 650.000 đồng mỗi tháng, và với thời gian thử việc 60 ngày, tổng số tiền bị trả thiếu vào khoảng 1.300.000 đồng.

5. Đối chiếu và xử lý khi bị trả thấp hơn quy định
Trước khi khiếu nại, người lao động nên hoàn tất phần đối chiếu để có cơ sở rõ ràng. Hồ sơ tự đối chiếu gồm hợp đồng thử việc, tin tuyển dụng hoặc thư mời nhận việc, bảng lương từng kỳ và sao kê ngân hàng thể hiện số tiền thực nhận. So số tiền thực nhận với mức tối thiểu hợp pháp tính ở phần trên sẽ thấy rõ chênh lệch.
1. Chế tài với doanh nghiệp trả thiếu
Theo điểm c khoản 2 Điều 10 Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội (Social Insurance), hành vi trả lương thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc bị phạt từ 2.000.000 đến 5.000.000 đồng với cá nhân, còn tổ chức bị phạt gấp đôi, tức 4.000.000 đến 10.000.000 đồng. Kèm theo là biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả đủ tiền lương của công việc cho người lao động.
2. Trình tự khiếu nại
Nghị định 24/2018/NĐ-CP quy định trình tự giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực lao động theo hai cấp. Các bước cơ bản như sau:
– Khiếu nại lần đầu gửi tới chính người sử dụng lao động, với thời hiệu 180 ngày kể từ ngày người lao động biết được hành vi bị khiếu nại.
– Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý trong 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn thuộc thẩm quyền.
– Nếu không được giải quyết hoặc không đồng ý với kết quả, người lao động khiếu nại lần hai tới cơ quan thanh tra lao động cấp tỉnh, hoặc khởi kiện ra tòa án.
Bộ máy quản lý nhà nước về lao động đã được sắp xếp lại, nên tên gọi cơ quan tiếp nhận khiếu nại lần hai có thể khác nhau giữa các địa phương; người lao động nên xác nhận đầu mối cụ thể trước khi nộp hồ sơ. Công đoàn cơ sở hoặc Liên đoàn Lao động cấp tỉnh cũng có thể hỗ trợ thương lượng lại với doanh nghiệp.
Lời khuyên trước khi ký hợp đồng thử việc
– Yêu cầu ghi rõ mức lương chính thức sau thử việc ngay trong hợp đồng thử việc, để tỷ lệ phần trăm có gốc tính minh bạch.
– Hỏi thẳng doanh nghiệp mức lương ghi trong hợp đồng là lương cố định hay đã gồm phụ cấp, vì hai cách hiểu cho ra hai con số khác nhau.
– Lưu lại tin tuyển dụng và toàn bộ trao đổi về lương dưới dạng ảnh chụp màn hình, vì tin đăng có thể bị gỡ sau khi tuyển xong.
– Đối chiếu địa bàn làm việc với danh mục vùng kèm Nghị định 293/2025/NĐ-CP, vì ranh giới vùng đã thay đổi sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.
Nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất từ hai lớp sàn này là lao động phổ thông, nơi mức lương công việc thường nằm gần ngưỡng tối thiểu vùng. Chuyên mục Lao động phổ thông trên CareerLink hiện có 439 tin tuyển dụng, mức lương phổ biến 6–30 triệu/tháng tùy vị trí, ca làm việc và kinh nghiệm. Với dải lương này, phần lớn vị trí đã vượt ngưỡng khoảng 6,25 triệu đồng của Vùng I, nghĩa là ràng buộc thực tế khi thử việc vẫn là con số 85%. Ứng viên nên đọc kỹ mô tả để phân biệt lương cố định và phần thu nhập tăng thêm theo sản lượng.
6. Câu hỏi thường gặp
1. Lương thử việc tối thiểu bao nhiêu phần trăm nếu hợp đồng không ghi mức lương chính thức?
Khi hợp đồng bỏ trống mức lương sau thử việc, gốc tính được xác định lại từ thang lương, bảng lương doanh nghiệp ban hành theo Điều 93 Bộ luật Lao động 2019, hoặc từ mức lương công bố trong tin tuyển dụng và thư mời nhận việc.
2. Người thử việc có được đóng bảo hiểm xã hội không?
Nếu ký hợp đồng thử việc riêng theo Điều 24 Bộ luật Lao động 2019 thì thời gian đó không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Trường hợp nội dung thử việc ghi thẳng trong hợp đồng lao động từ 01 tháng trở lên thì phát sinh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm, và có thể tra cứu quá trình đóng qua ứng dụng VssID của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3. Thử việc bị trả thiếu nhưng đã nghỉ việc thì còn đòi được không?
Vẫn còn, miễn trong thời hiệu. Khiếu nại lần đầu theo Nghị định 24/2018/NĐ-CP có thời hiệu 180 ngày kể từ khi biết hành vi vi phạm, còn thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án là 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi mà bên đó cho là xâm phạm quyền lợi.
Nắm được lương thử việc tối thiểu bao nhiêu phần trăm mới là nửa đầu câu chuyện. Nửa còn lại là xác định đúng mức lương của công việc dùng làm gốc nhân, rồi đối chiếu với lương tối thiểu vùng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP. Người lao động chịu khó ghi lại số liệu từ vòng phỏng vấn sẽ có cơ sở thương lượng vững hơn so với tranh luận bằng cảm tính sau khi nhận bảng lương đầu tiên.
Nội dung trong bài mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chính thức; vui lòng liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý lao động hoặc luật sư cho trường hợp cụ thể.
Minh An



