Để đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội Khóa XI đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2006. Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thống nhất các quy định về thành lập và quản lý các doanh nghiệp, không phân biệt là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay sở hữu tư nhân. Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999; Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, là bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

 

Xoá bỏ các khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Mục đích của Luật Doanh nghiệp 2005 là kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà nước. Luật Doanh nghiệp 2005 đã tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Cụ thể là Luật qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại hình này đều được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp mà không phụ thuộc vào tính chất sở hữu.

 

Tuy nhiên, sự khác biệt bất hợp lý giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thực sự được xóa bỏ hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù quyền tự do kinh doanh được mở rộng đáng kể, nhưng họ vẫn còn có thể bị hạn chế hoặc bị từ chối trong một số ngành mà doanh nghiệp trong nước không bị cấm hoặc hạn chế. Danh mục những ngành nghề kinh doanh bị cấm hay hạn chế này lại được quy định trong Luật Đầu tư chung. Điều này có nghĩa là các ngành nghề hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh trong Luật Đầu tư chung sẽ phải phù hợp với các cam kết quốc tế cũng như nguyên tắc đối xử công bằng trong chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước muốn hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thống nhất thì phải chuyển đổi loại hình sang công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

 

Mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là quyền của doanh nghiệp được tự chủ quyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tư kinh doanh và quyền huy động vốn. Mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng có nghĩa là hạn chế sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp.

 

Một trong những thay đổi được coi là mang tính đột phá của của Luật Doanh nghiệp 2005 là quyền hạn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được mở rộng đáng kể. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nội dung của giấy phép đầu tư như qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành. Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ đăng ký kinh doanh giống như các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Nhờ đó việc thành lập doanh nghiệp trở nên đơn giản, nhanh và ít chi phí hơn trước. Doanh nghiệp nước ngoài sẽ không bị giới hạn ở một loại hình công ty TNHH như hiện nay mà sẽ được tự do chọn các loại hình doanh nghiệp phù hợp. Những khống chế về mức sở hữu đối với đầu tư nước ngoài về cơ bản sẽ được xóa bỏ. Đối với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có quy định những điều kiện nhất định mà nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch hơn. Những thay đổi này chắc chắn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư.

 

Nếu so với Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003, Luật Doanh nghiệp 2005 đã cởi mở hơn đối với các Doanh nghiệp nhà nước. Trong khi nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài được tự quyết về công việc kinh doanh của mình thì doanh nghiệp nhà nước vẫn phải chịu ràng buộc hay chi phối bởi sự can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp của không ít cơ quan nhà nước. Với Luật Doang nghiệp 2005 các Doanh nghiệp Nhà nước sẽ được “cởi trói”, quyền kinh doanh sẽ được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh sẽ đươc nâng cao, việc quản trị sẽ được cải thiện và sẽ ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn.

 

Quản trị doanh nghiệp hợp lý, hiệu quả

Luật Doanh nghiệp 2005 đã tạo ra một khung quản trị thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế để áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển đổi và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khung pháp lý chung giúp giải quyết những tồn tại trong quản trị doanh nghiệp Nhà nước, ví dụ như quyền chủ sở hữu và quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng, vẫn còn chế độ “hành chính chủ quản”, cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người quản lý chưa hợp lý, cơ chế giám sát điều hành kém hiệu quả …

 

Khác với Luật Đầu tư nước ngoài hiện hành, Luật Doanh nghiệp 2005 sẽ không chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề cân bằng quyền lực giữa các bên trong liên doanh mà điều chỉnh cả quản trị của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

 

Luật Doanh nghiệp 2005 đã khắc phục một số hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2000 như vấn đề về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và chủ nợ, cơ chế cung cấp và tiếp cận thông tin, vấn đề trách nhiệm của các bên góp vốn, sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý, giải quyết mối quan hệ về quản trị, công ty cổ phần, công ty hợp danh v.v… Ngoài ra Luật cũng đã bổ sung một chương mới về công ty mẹ, công ty con và nhóm công ty – một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là mô hình mới ở Việt Nam lúc bấy giờ. Những quy định này mở ra những cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo một hướng phát triển mới trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô kinh doanh một cách hiệu quả mà vẫn kiểm soát được những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động.

 

Nhìn chung, Luật doanh nghiệp 2005, hay còn gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất là một bước tiến trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam, là tiền đề quan trọng để tăng năng lực cạnh tranh của thị trường, đáp ứng đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

 

Nguồn tham khảo:

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/17/41355/

 

http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=16744

 

http://vietbao.vn/Kinh-te/Nhung-thay-doi-cua-Luat-DN-va-Luat-dau-tu-moi/20472617/90/

 

Đinh Nga - CareerLink.vn

 

  •  
     
  •  

Luật Doanh nghiệp - Cẩm nang khác

Luật Phá sản Doanh nghiệp 2004: Làm khó nhiều bên

Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các b..

Doanh Nghiệp Tăng Trách Nhiệm - Người Lao Động Thêm Quyền Lợi

Bộ luật lao động(BLLĐ) - (Sửa đổi) sẽ được đưa vào áp dụng từ ngày 1/5/2013, thay thế cho bộ luật đang hiện hành. Bộ luậ..